12. Hiệp thông nghĩa là gì, đặc biệt đối với các Giáo hội Công giáo Đông phương, Giáo hội Chính Thống, và các hệ phái Tin lành?

Hiệp thông nghĩa là “thuộc về gia đình Giáo hội”. Giáo luật xác định những gì cần thiết cho việc hiệp thông:
Bí tích Rửa tội (đ. 204)
Tuyên xưng đức tin (đ. 205)
Cử hành các bí tích (đ. 205)
Nhìn nhận quyền bính giáo hội (đ.205)

11. Những ai cấu tạo nên Giáo hội, và chúng ta hiểu thế nào về Giáo hội Công giáo trong tương quan với những cộng đoàn Kitô giáo khác?

Giáo luật đôi khi đưa ra những phát biểu thần học, và điều 204 là một ví dụ cho trường hợp này. Trong triệt một của điều luật này xác định “tín hữu của Chúa Kitô” là “những người, nhờ  phép Rửa Tội, được hiệp thân với Ðức Kitô, kết thành dân Thiên Chúa”. Bí tích rửa tội là bí tích làm cho một người trở thành Kitô hữu.

10. Tục lệ trong giáo luật là gì?

Tục lệ là một thực hành nảy sinh trong một cộng đoàn tín hữu. Trái lại, việc lập pháp được quy định trước hết bởi Đức Giáo Hoàng, hoặc Đức Giám mục giáo phận. Cộng đoàn phải là “có khả năng đón nhận một luật”, điều đó có nghĩa Đức Giáo hoàng hay Đức Giám mục giáo phận có thể áp đặt một luật tương tự như tục lệ đó trên cộng đoàn nếu cần thiết. Ví dụ một tục lệ có trong nhiều giáo xứ là việc nắm tay nhau trong khi đọc kinh Lạy Cha trong Thánh lễ.

9. Các chuyên viên giáo luật có buộc phải cắt nghĩa chặt khi giải thích về các điều luật cụ thể không?

Một nguyên tắc pháp lý của Roma cổ nói rằng: việc có lợi thì cắt nghĩa rộng và việc có hại thì cắt nghĩa hẹp. Do đó, một luật áp dụng sự có lợi cho một nhóm hay một cá nhân cụ thể sẽ được cắt nghĩa rộng để áp dụng bao nhiêu có thể. Mặt khác, một luật mà giới hạn quyền của một nhóm hay một cá nhân, nói cách khác là áp đặt một hình phạt, thì sẽ được cắt nghĩa chặt.

8. Làm sao chúng ta biết được một điều luật cụ thể nói về tính hữu hiệu hay nói về tính hợp pháp?

Ngoại trừ một vài trường hợp ngoại lệ, điều 10 và điều 39 phác họa chung một điều kiện để xem xét một điều luật cụ thể chi phối tính hữu hiệu của hành vi. Điều 10 nói rằng “Các luật chỉ được coi là bãi hiệu hay bãi năng khi minh thị ấn định rằng một hành vi không có hiệu lực hay một chủ thể không có năng cách”. Nói cách khác, một điều luật cụ thể phải xác định rằng để cho một hành vi xảy ra “hữu hiệu” thì nó phải đáp ứng một điều kiện cụ thể, hoặc “một người là bãi năng” khi thực hiện một hành vi cụ thể.

7. Có khác biệt gì giữa hai thuật ngữ giáo luật: thành sự và hợp pháp?

Từ thành sự liên quan đến bản chất của hành động, trong khi đó từ hợp pháp xét đến tính đầy đủ về pháp lý. Chẳng hạn, năm 1988 Đức Tổng Giám mục Lefebvre đã truyền chức cho 4 giám mục mà không có thư ủy nhiệm của Đức Giáo hoàng Gioan Phaolo II. Hành động này đã thành sự vì Đức Tổng giám mục Lefebvre đã được truyền chức giám mục thành sự nên ngài có năng quyền để truyền chức cho các giám mục khác. Nhưng ngài không chỉ sai lầm trong việc tuân giữ lệnh cấm việc truyền chức giám mục mà không có phép của Tòa thánh, mà ngài còn tiến hành việc truyền chức sau khi Tòa thánh đã trực tiếp ra lệnh cho ngài không được làm điều đó. Hậu quả của hành vi không tuân thủ pháp lý này là Giáo hội đã ra vạ tuyệt thông Đức Tổng giám mục Lefebvre và 4 giám mục mà ngài đã truyền chức bất hợp pháp.

6. Những nguyên tắc tổng quát là gì?

Như đã được đề cập, Bộ Giáo luật được chia làm 7 quyển. Những nguyên tắc tổng quát, quyển thứ nhất, bao gồm các nguyên tắc chung để hướng dẫn các luật sư giáo luật trong việc giải thích điều luật. Cụ thể hơn, các nguyên tắc tổng quát là những quy tắc chung và chính yếu của luật mà các chuyên viên giáo luật viện dẫn khi giải thích các bản văn pháp lý riêng biệt được Giáo hội ban hành.