Trước tiên bạn phải tuyên xưng đức tin sau đó bạn xin
chuyển sang Giáo hội Công giáo Rôma. Việc tuyên xưng đức tin được coi như chấp
nhận sứ vụ của Đức Giáo hoàng trong sự hiệp nhất với các giám mục Công giáo
trên toàn thế giới. Khi một người tuyên xưng đức tin thì người đó trở nên thành
viên của Giáo hội Công giáo Đông phương tương ứng. Trong trường hợp của bạn,
bạn sẽ trở nên người Công giáo Ukraina.
13. Chuyện gì xảy ra khi là người Công Giáo?
Trong tiếng Latinh có câu: "Semel catholicus, semper
catbolicus" nghĩa là: một khi đã là người Công giáo thì mãi mãi là người
Công giáo. Một người trở thành người Công giáo khi nhận bí tích rửa tội trong
Giáo hội Công giáo hoặc khi công khai tuyên xưng đức tin trong Giáo hội Công giáo.
Việc xác định một người có là người Công giáo hay không là rất quan trọng trong
giáo luật, bởi vì thông thường luật không mở rộng quyền hay áp đặt nghĩa vụ
trên những người không Công giáo (xem trường hợp ngoại lệ ở câu 5 và 148).
12. Hiệp thông nghĩa là gì, đặc biệt đối với các Giáo hội Công giáo Đông phương, Giáo hội Chính Thống, và các hệ phái Tin lành?
Hiệp thông nghĩa là
“thuộc về gia đình Giáo hội”. Giáo luật xác định những gì cần thiết cho việc
hiệp thông:
Bí tích Rửa tội (đ. 204)
Tuyên xưng đức tin (đ.
205)
Cử hành các bí tích (đ.
205)
Nhìn nhận quyền bính giáo
hội (đ.205)
11. Những ai cấu tạo nên Giáo hội, và chúng ta hiểu thế nào về Giáo hội Công giáo trong tương quan với những cộng đoàn Kitô giáo khác?
Giáo luật đôi khi đưa ra những phát biểu thần học, và
điều 204 là một ví dụ cho trường hợp này. Trong triệt một của điều luật này xác
định “tín hữu của Chúa Kitô” là “những người, nhờ phép Rửa Tội, được hiệp thân với Ðức Kitô,
kết thành dân Thiên Chúa”. Bí tích rửa tội là bí tích làm cho một người trở
thành Kitô hữu.
10. Tục lệ trong giáo luật là gì?
Tục lệ là một thực hành nảy sinh trong một cộng đoàn tín
hữu. Trái lại, việc lập pháp được quy định trước hết bởi Đức Giáo Hoàng, hoặc
Đức Giám mục giáo phận. Cộng đoàn phải là “có
khả năng đón nhận một luật”, điều đó có nghĩa Đức Giáo hoàng hay Đức Giám
mục giáo phận có thể áp đặt một luật tương tự như tục lệ đó trên cộng đoàn nếu
cần thiết. Ví dụ một tục lệ có trong nhiều giáo xứ là việc nắm tay nhau trong
khi đọc kinh Lạy Cha trong Thánh lễ.
9. Các chuyên viên giáo luật có buộc phải cắt nghĩa chặt khi giải thích về các điều luật cụ thể không?
Một nguyên tắc pháp lý của Roma cổ nói rằng: việc có lợi
thì cắt nghĩa rộng và việc có hại thì cắt nghĩa hẹp. Do đó, một luật áp dụng sự
có lợi cho một nhóm hay một cá nhân cụ thể sẽ được cắt nghĩa rộng để áp dụng
bao nhiêu có thể. Mặt khác, một luật mà giới hạn quyền của một nhóm hay một cá
nhân, nói cách khác là áp đặt một hình phạt, thì sẽ được cắt nghĩa chặt.
8. Làm sao chúng ta biết được một điều luật cụ thể nói về tính hữu hiệu hay nói về tính hợp pháp?
Ngoại trừ một vài trường hợp ngoại lệ, điều 10 và điều
39 phác họa chung một điều kiện để xem xét một điều luật cụ thể chi phối tính hữu
hiệu của hành vi. Điều 10 nói rằng “Các
luật chỉ được coi là bãi hiệu hay bãi năng khi minh thị ấn định rằng một hành
vi không có hiệu lực hay một chủ thể không có năng cách”. Nói cách khác, một
điều luật cụ thể phải xác định rằng để cho một hành vi xảy ra “hữu hiệu” thì nó
phải đáp ứng một điều kiện cụ thể, hoặc “một người là bãi năng” khi thực hiện một
hành vi cụ thể.
Subscribe to:
Posts (Atom)