38. Tại sao có một số giám mục mang tước hiệu hồng y, và đâu là vai trò của các ngài?

Một người được mang tước hiệu Hồng Y hoàn toàn do Đức Giáo Hoàng chọn. Các Hồng Y trên toàn thế giới hợp thành Hồng Y đoàn. Các ngài được trao ban tước hiệu Hồng Y vì các ngài đã cống hiến cho Giáo hội những việc làm nhiều ý nghĩa và giá trị. Các ngài được kính trọng như là những vị lãnh đạo phi thường trong Giáo hội.

37. Tại sao có các địa phận (hay giáo phận), và đâu là chức năng của đức giám mục địa phận?


Từ “địa phận” có nguồn gốc từ tiếng Hy lạp. Nghĩa ban đầu của nó là việc sắp xếp một ngôi nhà. Về sau, từ này chỉ việc quản trị một vùng đất cụ thể. Mỗi vùng Công Giáo trên thế giới thuộc về một địa phận (hoặc một cơ cấu tương đương), và mỗi một vùng Công giáo ấy có một giám mục (hoặc một vị tương đương).

35. Các linh mục, giám mục, hồng y được mời gọi làm việc đến tuổi nào?

Các linh mục vẫn đang thi hành sứ vụ, khi tròn 75 tuổi được mời gọi đệ đơn từ nhiệm lên đức giám mục của mình (đ. 538 §3), nhưng các ngài không bị buộc phải nghỉ hưu. Nếu một linh mục còn đủ sức để thi hành sứ vụ thì ngài vẫn có thể tiếp tục. Hầu hết các linh mục trong các nước phát triển phụ thuộc vào chương trình lương bổng, do đó các ngài luôn sẵn sàng nghỉ hưu khi tròn 75 tuổi. Một điều thú vị là tại Mỹ, các giám mục cho phép các linh mục của mình nghỉ hưu ở tuổi sớm hơn. Nhưng từ khi tình trạng khan hiếm linh mục hoạt động mục vụ, chúng ta có thể thấy ngày càng nhiều hơn các linh mục đã tới tuổi nghỉ hưu nhưng vẫn còn đang làm việc bình thường.

34. Đức giáo hoàng có thể từ chức không?


Chúng ta đã chứng kiến vài điều phi thường trong thời kỳ hiện đại. Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã là một vị giáo hoàng du hành nhiều nhất trong lịch sử, và với một thời kỳ dài trong sứ vụ, dường như ngài đã gặp gỡ nhiều dân chúng hơn bất bất cứ vị tiền nhiệm nào của ngài. Cũng thế, không giống như các giáo hoàng khác, thế giới đã quan sát ngài chiến đấu với tình trạng sức khỏe của ngài. Điều này đặt ra một vấn nạn: Ngài đã có thể từ chức hay không?

33. Tại sao chúng ta lại có một giáo hoàng, và đâu là phạm vi quyền hạn của ngài?

Khi đặt ra vấn đề, giáo luật có một số điều nói về đức giáo hoàng. Trong luật, ngài thường được nhắc đến với danh xưng Giáo Hoàng (Summo Pontifici), một danh xưng bị ảnh hưởng bởi danh xưng của các hoàng đế trong Đế quốc Rôma. Tuy nhiên vai trò của đức giáo hoàng có nguồn gốc thần học.

32. Việc sử dụng danh xưng "Công giáo" có đòi hỏi giấy phép nào không?

Như bất kỳ một thể chế danh tiếng nào, Giáo hội gìn giữ danh xưng Công giáo để giúp các Kitô hữu nhận biết một nhóm khi họ sử dụng danh xưng này thì phải có sự xác nhận bằng văn bản của một bản quyền trong Giáo hội Công giáo. Bản quyền này thường là giám mục giáo phận.

26. Các linh mục có thể chuyển từ giáo phận này sang giáo phận khác, từ chức vụ này sang chức vụ khác hay không?


Giáo luật không cho phép các linh mục “làm nghề tự do”, “tuyệt đối không chấp nhận các giáo sĩ không có Bề Trên hoặc lang thang (đ. 265). Một linh mục luôn thuộc về một cơ cấu tổ chức nào đó, có thể là một giáo phận, một giám hạt tòng nhân như Opus Dei, hay một dòng tu như dòng Phanxicô. Thuộc về một cơ cấu tổ chức nào đó được gọi là nhập tịch. Nếu bạn nghi ngờ ai đó có đúng là linh mục hay không, bạn có thể hỏi người đó xem họ đã nhập tịch vào nơi nào.

25. Phó tế vĩnh viễn là gì, và ai có thể trở thành một phó tế vĩnh viễn?

Vấn đề phó tế vĩnh viễn đã từng được thảo luận trong suốt thời Trung cổ và được đưa trở lại sau Công đồng Vaticano II. Trong bộ Giáo luật năm 1917 chỉ để cập đến các phó tế chuyển tiếp, tức là các phó tế chuẩn bị được truyền chức linh mục.

22. Quyền theo giáo luật của Kitô hữu có hoàn toàn hay không? Hay nó chỉ được trao trong một giới hạn nhất định?

Bên cạnh những giới hạn đã được dẫn chứng, điều 223 trao cho người Công giáo những giới hạn chung khi họ thực hiện quyền theo Giáo luật. Khoản một của điều luật này nói:

21. Là một giáo dân, tôi có quyền là một thừa tác viên ngoại thường trong việc trao Mình Thánh Chúa hay không?

Giáo dân không được hưởng “quyền theo giáo luật” để làm thừa tác viên ngoại thường trong việc trao Mình Thánh Chúa, và những giáo dân nào được lựa chọn cho vai trò ấy cũng có thể bị giới hạn lại chỉ trong những trường hợp nào mới được thực thi. Để tôi giải thích nhé.

20. Đâu là những bổn phận mà người giáo dân phải hỗ trợ Giáo hội?


Đức Kitô đã hứa không bỏ rơi Giáo hội của Ngài. Nhưng Giáo hội vẫn hiện diện trên trần gian và thi hành sứ mệnh của mình trong thế giới. Do đó Giáo hội cần sự trợ giúp của tất cả các Kitô hữu. Điều 222 nói rằng các Kitô hữu có bổn phận hỗ trợ Giáo hội, “để Giáo hội có sẵn những gì cần thiết hầu xử dụng vào việc phụng thờ Thiên Chúa, các công tác tông đồ và bác ái”. Phần hai của điều luật này mời gọi thăng tiến công bằng xã hội “trợ giúp người nghèo” và trợ cấp xứng đáng cho các thừa tác viên thực hiện các công việc của Giáo hội. 

19. Giáo luật nói gì về việc bảo vệ thanh danh của người khác?


Điều 220 nói rằng “Không ai được phép làm thiệt hại cách bất hợp pháp đến thanh danh mà mỗi người được hưởng, hoặc vi phạm quyền của mỗi người được bảo vệ bí mật riêng tư của mình”.

18. Đâu là mối liên hệ giữa một hiệp hội Công giáo với Giáo hội phổ quát?

Các Giám mục trên khắp thế giới điều hành Giáo hội Công giáo. Cùng hiệp thông với Đức Giáo hoàng, các Giám mục được trợ giúp bởi các linh mục, phó tế, và giáo dân để thực hiện sứ mệnh mà Chúa Kitô trao phó. Tất cả các tín hữu phải nỗ lực quan tâm đến việc thăng tiến thiện ích của Giáo hội.

17. “Quyền lập hội” là gì đối với những người Công giáo, và nó được mở rộng đến mức nào?

Như một bản chất tự nhiên của con người, chúng ta có xu hướng tìm đến những người cùng ý hướng và liên kết với nhau để thăng tiến một giá trị nào đó hoặc hoạt động để tìm kiếm lợi nhuận. Khi chúng ta đến với nhau theo cách thức này là chúng ta hình thành một hội. Giáo luật cổ vũ và bảo vệ quyền thiết lập và quyền thuộc về các hiệp hội. 

16. Người Công giáo có quyền đối với các bí tích không?

Các bí tích là những phương thế nhờ đó tín hữu được thánh hóa và được kết hiệp sâu xa hơn với đời sống của Chúa Kitô. Giáo lý Giáo hội Công giáo nhìn nhận nhờ các bí tích “người tín hữu được sinh ra và lớn lên, được chữa lành và sai đi” (GL. số 1210).

15. Tôi có quyền để nói với cha xứ hay với giám mục về những nhu cầu của giáo xứ hay giáo phận tôi không?

Câu trả lời đơn giản là: “Đương nhiên bạn có quyền”. Luật Giáo hội phát biểu rõ rằng các tín hữu “tùy theo kiến thức, chuyên môn và tài ba của mình, họ có quyền, và đôi khi kể cả bổn phận, bày tỏ cho các Chủ chăn có chức thánh biết ý kiến của mình liên quan tới lợi ích của Giáo hội” (đ. 212 §3). Thực tế, đó là trách nhiệm của mỗi người Công giáo.

14. Tôi là một người Chính thống giáo Ukraina, nhưng vợ tôi là người Công giáo Rôma, tôi cũng muốn là người Công giáo Rôma vậy tôi phải làm gì?

Trước tiên bạn phải tuyên xưng đức tin sau đó bạn xin chuyển sang Giáo hội Công giáo Rôma. Việc tuyên xưng đức tin được coi như chấp nhận sứ vụ của Đức Giáo hoàng trong sự hiệp nhất với các giám mục Công giáo trên toàn thế giới. Khi một người tuyên xưng đức tin thì người đó trở nên thành viên của Giáo hội Công giáo Đông phương tương ứng. Trong trường hợp của bạn, bạn sẽ trở nên người Công giáo Ukraina.

13. Chuyện gì xảy ra khi là người Công Giáo?

Trong tiếng Latinh có câu: "Semel catholicus, semper catbolicus" nghĩa là: một khi đã là người Công giáo thì mãi mãi là người Công giáo. Một người trở thành người Công giáo khi nhận bí tích rửa tội trong Giáo hội Công giáo hoặc khi công khai tuyên xưng đức tin trong Giáo hội Công giáo. Việc xác định một người có là người Công giáo hay không là rất quan trọng trong giáo luật, bởi vì thông thường luật không mở rộng quyền hay áp đặt nghĩa vụ trên những người không Công giáo (xem trường hợp ngoại lệ ở câu 5 và 148).

12. Hiệp thông nghĩa là gì, đặc biệt đối với các Giáo hội Công giáo Đông phương, Giáo hội Chính Thống, và các hệ phái Tin lành?

Hiệp thông nghĩa là “thuộc về gia đình Giáo hội”. Giáo luật xác định những gì cần thiết cho việc hiệp thông:
Bí tích Rửa tội (đ. 204)
Tuyên xưng đức tin (đ. 205)
Cử hành các bí tích (đ. 205)
Nhìn nhận quyền bính giáo hội (đ.205)

11. Những ai cấu tạo nên Giáo hội, và chúng ta hiểu thế nào về Giáo hội Công giáo trong tương quan với những cộng đoàn Kitô giáo khác?

Giáo luật đôi khi đưa ra những phát biểu thần học, và điều 204 là một ví dụ cho trường hợp này. Trong triệt một của điều luật này xác định “tín hữu của Chúa Kitô” là “những người, nhờ  phép Rửa Tội, được hiệp thân với Ðức Kitô, kết thành dân Thiên Chúa”. Bí tích rửa tội là bí tích làm cho một người trở thành Kitô hữu.